Thế nào là thời gian cách ly của thuốc BVTV, tại sao phải quy định thời gian cách ly?

Ngay sau khi phun thuốc có một lượng thuốc tương đối nhiều bám dính trên cây trồng đủ khả năng tiêu diệt sâu bệnh. Lượng thuốc này có thể gây độc cho người và gia súc khi ăn nông sản. Phải qua một thời gian thuốc mới phân hủy xuống mức không còn gây hại cho người và gia súc. Khoảng thời gian ngắn nhất từ khi phun thuốc lên cây cho đến khi thuốc phân hủy đạt tới mức dư lượng tối đa cho phép gọi là thời gian cách ly, viết tắt theo tiếng Anh là PHI (Pre-Harvest Interval). Trong thực tế, thời gian cách ly được quy định là từ ngày phun thuốc lần cuối lên cây trồng cho đến ngày thu hoạch nông sản làm thức ăn cho người và vật nuôi, được tính bằng ngày. Thời gian cách ly khác nhau với từng loại thuốc trên mỗi loại cây trồng và nông sản tùy theo tốc độ phân hủy của thuốc trên cây trồng và nông sản đó. Thí dụ thời gian cách ly của thuốc Cypermethrin được quy định với rau ăn lá là 7 ngày, rau ăn quả là 3 ngày, bắp cải 14 ngày, hành 21 ngày. Thời gian cách ly của thuốc Dimethoate  với rau là 7 ngày; với lúa, khoai tây, cây ăn quả 14 ngày.

Các thuốc trừ sâu sinh học nói chung có độ độc với người thấp và mau phân hủy nên thời gian cách ly cũng ngắn. Thuốc trừ sâu vi sinh Bt có thời gian cách ly trên các cây trồng chỉ từ 3 – 5 ngày. Thuốc có thời gian cách ly ngắn phù hợp với sản xuất cây ăn quả, nhất là với các loại rau.

Phải quy định thời gian cách ly của thuốc BVTV là để đảm bảo an toàn sức khỏe cho người và vật nuôi khi ăn nông sản. Nói cách khác, thực hiện đúng thời gian cách ly là để thuốc phân hủy không còn khả năng gây độc cho người và vật nuôi, đó là trách nhiệm của người sản xuất nông sản, nhất là với rau và cây ăn quả. Theo quy định của nhà nước, trên nhãn bao bì của mỗi loại thuốc BVTV đều phải ghi rõ thời gian cách ly để người sử dụng thuốc biết mà thực hiện.


Answer by : Ths: Nguyễn Mạnh Cường